Tìm kiếm

Thứ Hai, 25 tháng 6, 2018

PHÂN CHUỒNG HỮU CƠ

Phân chuồng là loại phân do gia súc thải ra. Trung bình mỗi đầu gia súc nuôi nhốt trong chuồng. Sau mỗi năm có thể cung cấp một lượng phân chuồng (kể cả độn) như sau: Lợn

1,8-2,0 tấn/con/năm
0,8-0,9 tấn/con/năm
Trâu bò 8,0-9,0 tấn/con/năm
Ngựa 6,0-7,0 tấn/con/năm.
Chất lượng và giá trị của phân chuồng phụ thuộc rất nhiều vào cách chăm sóc, nuôi dưỡng, chất liệu độn chuồng và cách ủ phân
Phân chuồng tổn thường có các thành phần dinh dưỡng như ở bảng 1.


% dinh dưỡng
Loại phân
H2O
N
P2O5
K2O
CaO
MgO
Lợn
82,0
0,8
0,41
0,26
0,09
0,10
Trâu, bò
83,1
0,29
0,17
1,0
0,35
0,13
Ngựa
75,5
0,44
0,35
0,35
0,15
0,12
56,0
1,63
0,54
0,85
2,40
0,74
Vịt
56,0
1,00
1,40
0,62
1,70
0,35

Trong 10 tấn phân chuồng có thể lấy ra được một số nguyên tố vi lượng như sau:
Bo: 50-200g
Mn: 500-2000g
Co: 2-10g
Cu: 50-150g
Zn: 200-1000g
Mo: 5-25g
Phân chuồng đã được xử lý ủ hoai mục

Phân chuồng tươi

Các phương pháp tiến hành xử lý phân chuồng


Độn chuồng: Độn chuồng vừa có tác dụng giữ ẩm, tạo điều kiện khô ráo cho gia súc, vừa tăng thêm khối lượng phân. Vì vậy chất độn chuồng cần có tác dụng hút nước phân, nước giải phân đạm và tăng khối lượng cũng như chất lượng phân chuồng. Cần chọn chất độn chuồng tốt và tiến hành độn chuồng cần thận.
Nông dân ta thường dùng rơm rạ, thân lá cây họ đậu, phân xanh, lá cây, cỏ khó... để làm chất độn chuồng.


Ủ phân: Đây là biện pháp cần thiết trước khi đem phân chuồng ra bón ruộng. Bởi vì trong phân chuồng tươi còn nhiều hạt cỏ dại, nhiều kén nhộng côn trùng, nhiều bào tử của nấm, xạ khuẩn, vi khuẩn và tuyến trùng gây bệnh, phân vừa có tác dụng sử dụng nhiệt độ tương đối cao trong quá  trình phân huỷ chất hữu cơ để tiêu diệt hạt cỏ dại và mầm mống côn trùng, và bệnh cây vừa thúc đẩy quá trình phân huỷ chất hữu cơ, đẩy nhanh quá trình khoáng hoá để khi bón vào đất phân hữu cơ nhanh chóng có thể cung cấp chất dinh dưỡng cho cây.

Mặt khác, tỷ lệ C/N trong phân tươi cao, là điều kiện thuận lợi cho các loài vi sinh vật phân hủy các chất hữu cơ ở giai đoạn đầu hoạt động mạnh. Chúng sẽ sử dụng nhiều chất dinh dưỡng và tranh chấp chất dinh dưỡng với cây.
Ủ phân làm cho trọng lượng phân chuồng có thể giảm xuống, nhưng chất lượng phân chuồng tăng lên. Sản phẩm cuối cùng của quá trình ủ phân là phân hữu cơ hay gọi là phân ủ, Trong loại phân này có mùn, một phần chất hữu cơ chưa phân huỷ, muối khoáng, các sản phẩm trung gian của quá trình phân huỷ, một số enzim, chất kích thích và nhiều loài vi sinh vật hoại sinh .
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới của nước ta với ẩm độ cao, nắng nhiều, nhiệt độ tương đối cao, quá trình phân huỷ các chất hữu cơ diễn ra tương đối nhanh... Sử dụng phân chuồng bán phân giải là tốt nhất, bởi vì ủ lâu phân ủ  sẽ mất nhiều đạm.
Chất lượng và khối lượng phân ủ thay đổi nhiều tuỳ thuộc vào thời gian và phương pháp ủ. Thời gian và phương pháp ủ phân ảnh hưởng lớn đến thành phần và sự hoạt động của tập đoàn vi sinh vật phân huỷ, chuyển hoá chất hữu cơ thành mụn, qua đó ảnh hưởng đến chất lượng và khối lượng phân ủ.
Để đảm bảo cho các quá trình hoạt động của vi sinh vật được tiến hành thuận lợi, nơi ủ phân phải có nên không thấm nước, cao ráo, tránh ứ đọng nước mưa. Đống phân phải có mái che mưa để tránh mất đạm. Cạnh nơi ủ phân cần có hố để chứa nước từ đống phân chảy ra. Dùng nước phân ở hố này tưới lại đống phân để giữ độ ẩm cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho tập đoàn vi sinh vật hoạt động mạnh hơn.


Các phương pháp ủ phân. Có 3 phương pháp ủ phân.


Ủ Nóng: Khi lấy phân ra khỏi chuồng, phân được xếp thành từng lớp ở nơi có nền không thấm nước, nhưng không được nóng. Sau đó tưới nước phân lên, giữ độ ẩm trong đống phân 60-70%. Có thể trộn thêm 1% Vôi bột (tính theo khối lượng) trong trường hợp phân có nhiều chất độn, Trộn thêm 1-2% supe lân để giữ đạm. Sau đó trát bùn bao phủ bên ngoài đống phân. Hàng ngày  tưới nước từ chân lên đống phân.


Sau 4-6 ngày, nhiệt độ trong đống phân có thể lên đến 60. Các loài vi sinh vật phân giải chất hữu cơ phát triển nhanh mạnh. Các loài vi sinh vật háo khí chiếm ưu thế. Do hoạt độ mạnh của tập đoàn vi sinh vật, nhiệt độ trong đống phân tan nhanh và đạt mức cao. Để đảm bảo cho các loài vi sinh vật hiếm khí hoạt động tốt cần giữ cho đống phân tơi, xốp, thoáng.
Phương pháp ủ nóng có tác dụng tốt trong việc tiêu diệt các hạt cỏ dại, loại trừ các mầm mống sâu bệnh. Thời gian ủ tương đối ngắn, chỉ sau 30-40 ngày là phân ủ có thể đem sử dụng. Tuy vậy, phương pháp này có nhược điểm là để mất nhiều đạm.
Ủ nguội: Phân được lấy ra khỏi chuồng, xếp thành lập và nện chặt. Trên mỗi lớp phân chuồng rắc 2% phân lân. Sau đó đắp đất bột hoặc đất bùn khô đập nhỏ, rối nén chặt. Thường phân được xếp với chiều rộng 2-3m, chiều dài tuỳ thuộc chiều dài nền đất. Các lớp phân được xếp lần lượt cho đến độ cao 1,5-2,0 m. Sau đó trét bùn phủ bên ngoài.


Do bị nén chặt nên bên trong đồng phân thiếu oxy, môi trường trở thành yếm khí. Khí cacbonic trong đống phân  tăng. Vi sinh vật hoạt động chậm. Vi sinh vật hoạt động chậm làm cho nhiệt độ trong đống phân không tăng cao và chỉ ở mức 3035°C, Đạm trong đống phân chủ yếu ở dạng Amon cacbonat, là dạng khó phân huỷ thành amoniac, nên lượng đạm bị mất giảm đi nhiều. Theo phương pháp này, thời gian ủ phân phải kéo dài 5-6 tháng mới dùng được. Nhưng phân có chất lượng tốt hơn ở nóng.


Ủ nóng trước, nguội sau: Phân chuồng lấy ra xếp thành lớp không nén chặt ngay. Để như vậy cho vi sinh vật hoạt động mạnh trong 5-6 ngày. Khi nhiệt độ đạt 50-60C tiến hành nén chặt  để chuyển đống phân sang trạng thái yếm khí.


Sau khi nén chặt lại xếp tiếp lớp phân chuồng khác lên, không nén chặt. Để 5-6 ngày cho vi sinh vật hoạt động. Khi đạt đến nhiệt độ 50-60C lại tiến hành nén chặt.
Cử như vậy cho đến khi đạt được độ cao cấp thiết thì trút bùn phủ chung quanh đống phân. Quá trình chuyển hoá trong đống phân diễn ra như sau: ủ nóng cho phân bắt đầu ngấu, sau đó chuyển sang ủ nguội bằng cách nén chặt lớp phân để giữ cho đạm không bị mất.
Để thúc đẩy cho phân chóng ngấu ở giai đoạn ủ nóng, người ta dùng một số phần khác làm men như phân bắc, phân tằm, phân gà, vịt... Phần men được cho thêm vào lớp phân khi chưa bị nén chặt.

Ủ phân theo cách này có thể rút ngắn thời gian so với cách nguội, nhưng phải có thời gian dài hơn cách ủ nóng.
Tùy theo thời gian có nhu cầu sử dụng phân mà áp dụng phương phí 1 phần thích hợp để vừa dinh bảo có phân dân đúng lúc vừa đảm bảo được chất lượng phân.

Hà Phương

PHÂN CHUỒNG HỮU CƠ Rating: 4.5 Diposkan Oleh: Unknown